Ngày Tết ‘Hiếu Đạo’ Của Người Công Giáo

Thứ Th 2,
23/01/2023
Đăng bởi Truyền Thông Thương Khó


Tết đến – Xuân về là thời khắc thiêng liêng của mỗi gia đình Việt. Ngày Tết Nguyên Đán - Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Đó là khao khát sự trường tồn cuộc sống, sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân, sự gắn kết trong cộng đồng, gia tộc và gia đình. Tết Nguyên Đán còn là dịp cầu chúc nhau mọi sự may mắn, bình an, ‘thuận buồm xuôi gió’, ‘mã đáo thành công’, nhưng cùng là dịp để ‘ôn cố tri tân’, để hướng về cội nguồn. 

Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại quê xưa, giếng nước, cây đa, mảnh sân nhà,… được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. Tết không biết có tự bao giờ, nhưng nó đã đi sâu vào tâm khảm người Việt, nó hòa vào dòng chảy văn hóa thi ca, trở thành truyền thống tốt đẹp được lưu truyền qua các thời đại và mọi thế hệ.

Bởi thế, “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn. Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trên bàn thờ gia tiên những mâm ngũ quả, mâm cỗ với nhiều món ngon...thể hiện tấm lòng của con, cháu kính dâng lên những người đã khuất.

Điều đó càng đặc biệt hơn đối với người Công giáo tại Việt Nam, Giáo Hội Công giáo dành riêng ba ngày đầu năm để cầu nguyện cho: Bình an, Ông bà Tổ Tiên, Thánh hóa việc làm.  Quả vậy, Công giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVI, nhưng Công giáo đã mang trong mình những nghi lễ, đạo nghĩa gắn liền với người Việt. Theo thói quen của người Việt thì mồng 1 tết Cha, mồng 2 tết Mẹ, mồng 2 tết Thầy; còn đối với người Công giáo, dành riêng ngày mồng 2 để tưởng nhớ, tri ân và cầu nguyện cho Ông Bà Tổ Tiên. Cầu cho những người còn sống được bình an, mạnh khỏe, hạnh phúc bên con cháu; cầu cho những người đã qua đời được yên nghỉ nơi chốn Thiên đàng. Vì thế, có thể nói rằng những ngày tết như một một dịp lễ báo hiếu, một cơ hội thuận tiện để con cái, cháu chắt thực hành nghi lễ hiếu kính tốt đẹp dành cho các bậc tiền nhân.   Nhân đây, xin được gợi lên đôi dòng suy tư về chữ “Hiếu” trong Công giáo nhân dịp Tết đến – Xuân về, đặc biệt trong ngày mồng hai tết hướng về Ông Bà Tổ Tiên.

1.    Kinh thánh dạy về chữ Hiếu

Thực vậy, xét trên quan điểm Kitô giáo, ‘Hiếu’ như một quà tặng Thiên Chúa ban cho con người, gieo vào cõi lòng con người, để dẫn dắt con người về với chân thiện mỹ hay để con người trở về với Đấng là Chân Lý vẹn toàn. Như vậy, “Hiếu” có thể nói như là hạt giống của Lời hay tia sáng của Chân Lý chiếu dọi muôn người. Qua đó, những hạt giống và tia sáng đó dẫn đưa nhân loại về với cùng đích của mình, về với Đấng là nguồn cội phát sinh muôn loài muôn vật là, Cha của mọi người và mọi người là anh em của nhau dù còn trong các khác biệt về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo hay gia tộc trần thế trong cuộc sống hôm nay; nhưng tất cả mọi người được kêu gọi hãy sống hiếu thảo với cha mẹ và Thiên Chúa nói: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20, 12).

Kinh Thánh dạy rõ về bổn phận hiếu nghĩa của con cái đối với những bậc sinh thành ra mình. Trước hết, trong Cựu ước, một trong những giới luật nổi bật quan trọng về lòng thảo hiếu đối với mẹ cha là “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, để được sống lâu trên đất mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20, 12). Tác giả sách Châm Ngôn đã đề nghị những thực hành cụ thể đối với mẹ cha: “Này con, giáo huấn của cha, con hãy nghe, lời dạy của mẹ, con đừng gạt bỏ. Vì những lời ấy sẽ là vòng hoa xinh con đội lên đầu, là vòng kiềng con đeo vào cổ” (Cn 1,8-9). Hay người con hiếu thảo là người con biết tuân giữ lời cha truyền và nghe lời mẹ dạy: “Hỡi con, lệnh cha con truyền, hãy lo tuân giữ, lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai. Những lời truyền dạy đó, con hãy khắc trong tim, con hãy đeo vào cổ, để ghi nhớ đêm ngày. Những lời đó sẽ hướng dẫn con lúc con tới lui, sẽ giữ gìn con khi con nằm xuống, sẽ cùng con chuyện trò khi con thức dậy (Cn 6,20-22). Chính cách sống hiếu nghĩa của người con sẽ làm cho cha mẹ được mừng vui hạnh phúc: 

Hãy lắng nghe cha con, đấng sinh thành ra con, đừng khinh dể mẹ con khi người già yếu. Chân lý và khôn ngoan, nghiêm huấn và hiểu biết, con hãy mua lấy chứ đừng bán đi. Thân phụ người công chính sẽ mừng vui, đấng sinh thành người khôn sẽ hoan hỷ. Ước gì cha mẹ con được hỷ hoan và người sinh ra con được mừng rỡ (Cn 23,22-25).

Sách Huấn ca đề cao công ơn cha mẹ: “Cha con, con hãy hết lòng tôn kính, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng?” (Hc 7,27-28).

Sống hiếu thảo với cha mẹ là điều kiện để được chúc phúc và làm đẹp lòng Thiên Chúa:

Hỡi các con, hãy nghe cha đây, và làm thế nào để các con được cứu độ. Đức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con. Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng... Hãy thảo kính cha con bằng lời nói việc làm, để nhờ người mà con được chúc phúc. Vì phúc lành của người cha làm cho cửa nhà con cái bền vững, lời nguyền rủa của người mẹ làm cho trốc rễ bật nền. Chớ vênh vang khi cha con phải tủi nhục, vì nỗi tủi nhục đó chẳng vinh dự gì cho con. 

Quả thật, người ta chỉ được vẻ vang lúc cha mình được tôn kính; và con cái phải ô nhục khi mẹ mình bị khinh chê. Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người. Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con. Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó, và các tội con sẽ biến tan như sương muối biến tan lúc đẹp trời. Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa (Hc 3,3-16).

Sang thời Tân Ước, Đức Giêsu đã yêu cầu sống đạo hiếu không chỉ trong lời nói mà cả trong hành động. Ngài nhắc lại luật hiếu thảo trong Xh 20, 12 và Lv 20, 9: “Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó”, để nói với những kẻ đạo đức giả trốn tránh trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ mình:

Còn các ông, các ông lại bảo: “Ai nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ Isaia thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mt 15,5-9).

Vâng lời cha mẹ là điều phải đạo, như thánh Phaolô dạy: “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa” (Cl 3, 20). Đó là điều kiện để được sống và sống hạnh phúc trên trần gian này: “Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-3).

Đức Giêsu, trong thân phận con người, đã thể hiện lòng hiếu thảo cách toàn vẹn. Trước tiên Ngài luôn hiếu thảo với Cha trên trời, hoàn toàn tuân theo và thực hiện ý Chúa Cha trong mọi sự: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34). Thiên Chúa Cha đã xác nhận: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3, 17). Lòng vâng phục hiếu thảo ấy cuộc được sống triệt để với thánh Giuse và Mẹ Maria tại gia đình Nadarét cũng tuyệt vời như thế: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,51-52).

Là dân Thiên Chúa, Hội thánh theo gương Đức Giêsu, sống hiếu thảo với Cha trên trời và các bậc sinh thành ra mình. Do đó, Hội thánh không ngừng nhắc nhở Kitô hữu về bổn phận của con cái đối với cha mẹ. “Sự tôn kính của con cái (sự hiếu thảo) đối với cha mẹ là tình cảm tri ân đối với những vị đã ban sự sống và dùng tình yêu thương và công khó nhọc để sinh thành và nuôi dưỡng con cái cho khôn lớn về thể xác, về khôn ngoan và về ân sủng” . Đặc biệt, lòng hiếu thảo tri ân ấy còn được mở rộng đến tất cả những ai đã sinh thành và nuôi dưỡng người tín hữu qua việc lãnh nhận và sống đức tin của mình .

2.    Hiếu trong Luân lý Kitô giáo

Hiếu nằm ngay trong Thập giới, là căn bản của luật luân lý Kitô giáo. Thập giới của Kitô giáo được chia làm hai nhóm: ba giới răn đầu liên quan đến Thiên Chúa, bảy giới răn sau liên quan đến tha nhân. Giới răn thứ tư, ‘thảo kính cha mẹ’, là giới răn đứng đầu nhóm sau. Điều đó có nghĩa: ‘thảo kính cha mẹ’ là giới luật quan trọng nhất trong các giới liên quan đến tha nhân. Cho nên, điều răn thứ tư mời gọi chúng ta sống lòng hiếu thảo, được thể hiện qua những bổn phận của con cái đối với cha mẹ, đối với gia tộc và quê hương, bởi “lòng hiếu thảo củng cố sự hài hòa trong toàn bộ đời sống gia đình, ảnh hưởng đến tất cả tương quan giữa anh chị em. Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ làm rạng rỡ bầu khí gia đình” .

Theo thánh Tôma Aquino, bổn phận yêu mến và kính trọng của con cái đối với cha mẹ xuất phát từ sự kiện sau Thiên Chúa cha mẹ là “nguồn thứ hai đem lại sự sống, sự phát triển và giáo dục” cho con cái . Quả thế, điều răn thứ tư trong Thập giới nhấn mạnh rõ ràng tới nghĩa vụ của con cái là kính trọng và yêu mến cha mẹ mình, đây được coi là nền tảng của lòng hiếu thảo và nó xuất phát từ lòng biết ơn đối với cha mẹ . “Hãy thảo kính cha mẹ để ngày đời của các người được dài ra trên đất Đức Chúa, Thiên Chúa của các người, sẽ ban cho các ngươi” (Xh 20,12: Đnl 5,16).  Đức Kitô đã hai lần trưng dẫn và xác nhận điều răn này (Mt 15,4; 19,19). Thảo kính cha mẹ là do mầu nhiệm sự sống : cha mẹ là người cộng tác với Thiên Chúa trong mầu nhiệm này. Thảo kính cha mẹ cũng là do cha mẹ có trách nhiệm quan trọng về con cái trước mặt Chúa. 

Tinh thần kính trọng bên trong cần phải được diễn tả qua những cử chỉ bên ngoài. Kính trọng còn cao hơn cả yêu mến. Dù cha mẹ có xấu xa, bất xứng thì vẫn không có gì hay không có một người nào có thể tước đoạt được vinh dự của các ngài là đã cùng với Thiên Chúa sinh dựng nên ta. Tính thánh thiêng ấy đòi hỏi một sự kính trọng xứng hợp . Không nhìn nhận các ngài trước mọi người là điều trái với luân thường đạo lý. Chính vì các ngài đã cùng với Thiên Chúa đã cho ta sự hiện hữu, ta phải nhìn nhận quyền bính của các ngài. Quyền bính chính Thiên Chúa ban cho các ngài để nuôi dưỡng và gia tăng lòng đạo đức nơi con cái. Con cái phạm tội thiếu kính trọng cha mẹ khi tỏ ra xấu hổ về cha mẹ mình, phủ nhận cha mẹ mình chỉ vì họ hèn hạ hay nghèo túng ; hoặc khi dùng những lời lẽ xúc phạm để nói với cha mẹ, đối xử với cha mẹ cách khinh miệt hay giơ tay chống lại cha mẹ. 

Bên cạnh đó, theo thánh Phaolô, quan hệ giữa con cái với cha mẹ có một nét đặc biệt là thái độ vâng phục của con cái đối với cha mẹ. Thánh Phaolô yêu cầu con cái phải vâng phục cha mẹ trong mọi sự (Ep 6,1 ; Cl 3,20) và đã xếp bất tuân vào số các nét xấu (Rm 1,30; 2Tm 3,2). Vâng phục là chấp nhận trật tự đẳng cấp của thụ tạo và xét cho cùng, là chấp nhận quyền hạn của Thiên Chúa, bởi chưng Thiên Chúa đã xây dựng và sắp xếp cuộc sống của con người bằng cách để cho con người phải lệ thuộc và dựa dẫm nhau. Muốn phát triển toàn diện, con cái cần được cha mẹ và các nhà giáo dục giúp đỡ, hướng dẫn. Việc này kéo theo bốn phận phải vâng phục (vâng phục vì giáo dục). Bao lâu còn cần sự hướng dẫn của cha mẹ và chưa đủ khả năng, chưa có đủ thẩm quyền để tự quyết định, con cái còn phải vâng phục cha mẹ trong mọi điều tốt, hợp pháp, có liên quan đến việc giáo dục và đào tạo. Trật tự trong nhà cũng đòi con cái phải tùng phục cha mẹ (vâng phục vì chức vụ) ; đòi hỏi này cũng có giá trị đối với con cái đã trưởng thành, bao lâu còn sống chung với cha mẹ. Mọi con cái phải vâng phục cha mẹ trong những điều cần thiết cho gia đình được yên ổn, trật tự. Ngoài ra, cha mẹ luôn có quyền và nghĩa vụ rộng rãi trong việc khuyên nhủ con cái trước những gì tốt đẹp cho chúng. 

Hơn thế nữa, tình yêu của con cái với cha mẹ trước hết phải là một tình yêu mang sắc thái của lòng biết ơn (cf. MV 48), bởi vì con cái là những người thọ ơn cha mẹ từ lúc thai kì, cho đến khi sinh ra và trưởng thành. Yêu mến và biết ơn, những tâm tình ấy phải được diễn tả thành lời nói và cử chỉ. Con cái phải giúp đỡ cha mẹ khi về già hoặc khi túng thiếu, phải năng thăm viếng cha mẹ khi các ngài còn sống. Qua những cử chỉ, hành động yêu thương đó, nói lên được lòng biết ơn chân thành của con cái dành cho cha mẹ.

Quả thế, lòng hiếu thảo của Kitô hữu không chỉ được bày tỏ khi các vị còn sống mà còn tiếp tục biểu lộ lúc các ngài đã qua đời (ông bà, cha mẹ, tổ tiên …). Hội thánh dạy các tín hữu phải chu toàn đạo hiếu: tôn kính biết ơn và vâng lời ông bà cha mẹ trong những điều chính đáng; chăm lo cho cha mẹ được đầy đủ phần xác cũng như phần hồn; khi cha mẹ qua đời phải lo việc tang ma, làm các việc thiện, cầu nguyện và dâng lễ cho các ngài, đặc biệt trong những ngày các ngài qua đời cũng như trong tháng cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời (tháng 11 hằng năm) hay dành đặc biệt ngày mùng 2 Tết cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ và tổ tiên. 

Bên cạnh đó, vào dịp đầu năm mới, hình ảnh Cha Mẹ, Ông Bà, tổ tiên từ cái nhìn đạo hiếu dân tộc còn được tìm thấy qua Thánh Lễ Đầu Năm. Thánh Lễ dâng lên để tạ ơn Thiên Chúa, Cha nhân lành, và cùng con người hòa nhập vào với thiên nhiên để tỏ lòng tôn kính và yêu thương Cha Mẹ. Giáo Hội Việt Nam cũng đã dành riêng ngày mùng Hai Tết Nguyên Đán để cầu nguyện, kính nhớ đến Ông Bà, Cha Mẹ và tổ tiên.

3.    Hiếu đạo trong quá trình Phúc Âm hóa ở Việt Nam

“Đạo Hiếu” được đón nhận và đi vào lối sống của người Việt Nam một cách tự nhiên, ở mọi thời và mọi nơi. Như thế, “Đạo Hiếu” được xem như “hạt giống của Lời” được gieo vào dòng máu và con tim của dân Việt qua muôn vàn thế hệ, ngày nay khi gặp được Tin Mừng soi chiếu, nó được đón nhận như một thành phần không thể thiếu được của toàn bộ đời sống của Kitô hữu. Tại Việt nam cũng như Trung Quốc và mấy nước lân cận ít nhiều chịu ảnh hưởng của Khổng giáo từ lâu đời, đặc biệt đề cao lòng hiếu thảo đối với ông bà tổ tiên hơn nhiều dân tộc khác, ít là qua các hình thức bên ngoài. Lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ chẳng những phải thể hiện rõ nét khi cha mẹ còn sống, mà cả khi các ngài đã qua đời. 

Quả thế, truyền thống Kitô giáo dạy về Đạo Hiếu và nhấn mạnh tới Đạo Hiếu rất nhiều. Tuy nhiên, khi nhìn lại quá khứ, ta thấy thật đáng tiếc là trong quá trình phúc âm hóa, Kitô giáo đã bị hiểu lầm là một tôn giáo đi ngược với Đạo Hiếu, thậm chí là một tôn giáo chủ trương bất hiếu, vì đã từng cấm không cho người Kitô hữu Á Đông thờ cúng tổ tiên như mọi người Á Đông thường làm. Điều này đã khiến cho nhiều người Trung Hoa và Việt Nam bất mãn và ác cảm với Kitô giáo, chẳng hạn như nhà nho Nguyễn Đình Chiểu đã biểu lộ sự bất mãn rất lớn của ông qua câu thơ chua xót: “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn có mắt ông cha không thờ”.

Khi người ta chưa hiểu Kitô giáo là gì, đương nhiên người ta sẽ phán đoán theo nề nếp tư tưởng cũ của mình. Do đó, chỉ cần nghe nói Kitô giáo cấm thờ cúng tổ tiên, thì biết bao nhiêu người Việt – nhất là những người thấm nhuần tinh thần đạo Tổ Tiên, Khổng giáo, và Phật giáo, vốn coi chữ hiếu là quan trọng hàng đầu – đã coi Kitô giáo là tà đạo, không nên theo, thậm chí nên cấm. Rất nhiều người đã không thể gia nhập Kitô giáo cũng vì lệnh cấm thờ cúng tổ tiên của Giáo Hội. Biết bao người hiểu Kitô giáo và muốn gia nhập Kitô giáo, nhưng không thắng nổi áp lực tâm lý của những người trong gia đình hay gia tộc cho rằng theo Kitô giáo là bỏ cha bỏ mẹ, là bất hiếu với tổ tiên, và một người như thế thì không xứng đáng là người nữa.

Đây quả là một sự hiểu lầm giữa các vị lãnh đạo Công giáo thời đó và người Á Đông trong việc thờ cúng tổ tiên. Đây là chuyện đáng tiếc gây ra do sự khác biệt về văn hóa và tập tục giữa Đông và Tây, đặc biệt giữa quan niệm của Kitô giáo và của các dân tộc Á Đông.

Theo giáo lý, người Kitô hữu chỉ thờ phượng duy nhất một mình Thiên Chúa là chủ tể dựng nên muôn loài vạn vật, và không được phép thờ phượng bất kỳ ai khác. Ngoài Thiên Chúa ra, thì tất cả đều là thụ tạo, cũng được Thiên Chúa dựng nên như chúng ta. Chúng ta có thể tôn kính những bậc thánh, những vĩ nhân, các vị minh quân, các anh hùng dân tộc, những ân nhân của mình hay của dân tộc, hoặc ông bà tổ tiên mình, chứ chúng ta không được tôn thờ họ.

Phân biệt giữa Đấng tạo dựng (Créateur) và những gì được tạo dựng (créés), để rồi từ đó phát sinh ra hai thái độ phân biệt đối với hai phạm trù đó thì thật là hợp lý. Điều đó còn hợp lý hơn sự phân biệt giữa vua và quan, giữa cha mẹ và người anh cả. Có người dân trung thành nào lại tôn kính vua làm sao thì cũng tôn kính các quan khác như vậy không? Có người con hiếu thảo nào lại tôn kính người anh hay chị cả mình ngang với cha mẹ mình không? Đối xử một cách bình đẳng với hai người vốn không bình đẳng như thế là một sự xúc phạm đối với người lớn hơn. Điều này bất cứ người Đông Phương hay người Việt nào cũng đều chấp nhận.

Thật ra, người Việt hay người Á Đông nào cũng phân biệt Trời, Đấng sinh ra vạn vật, và những vật do Trời dựng nên. Nhưng theo văn hóa của họ, về mặt lễ nghi, việc thờ Trời là dành cho vua, vua có nhiệm vụ đối với Trời, còn người dân có nhiệm vụ đối với vua. Đối với Trời, người dân chỉ có nhiệm vụ sống thuận ý Trời: ‘Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong’. Vì thế, Trời tuy cao nhất, nhưng người dân không được phép thờ Trời theo lễ nghi, mà chỉ có vua tức Thiên Tử (Con Trời) được phép thờ mà thôi . Đấy cũng là một cách biểu lộ sự tôn kính cao cả nhất đối với Trời: điều này xem ra không hợp lý đối với não trạng văn hóa của người Tây Phương, nhưng lại rất hợp lý theo não trạng văn hóa Đông Phương, và để hội nhập văn hóa, chúng ta phải đặc biệt tôn trọng sự khác biệt về văn hóa.

Quan niệm về sự kính trọng của người Á Đông là ‘kính nhi viễn chi’: càng kính trọng thì càng phải giữ một khoảng cách. Vua cũng chỉ là người thôi, thế mà ở Á Đông, người dân phải kính trọng vua đến độ không được phép nhìn, ngay cả các quan cũng không được phép nhìn trực diện, tâu cái gì thì cũng phải quay mặt đi chỗ khác mà tâu. Đối với vua mà còn phải giữ một độ xa như thế, huống gì đối với Trời, còn cao hơn vua hàng ngàn bậc . Vì không được thờ Trời, nên những lễ nghi tỏ sự tôn kính nhất đáng lẽ dành cho Trời, nếu không được dùng cho Trời nữa, thì đương nhiên phải được dành cho tổ tiên hoặc người đã khuất là những người xứng đáng nhất .

Việc thờ cúng tổ tiên hay người chết với những lễ nghi như thế không có nghĩa là coi tổ tiên ngang bằng với Trời. Việc thờ cúng đó theo tập tục văn hóa cổ truyền thực ra là một hình thức kính nhớ nhiều hơn là thờ phượng hiểu theo nghĩa Tây Phương (adorer hay worship), là sự thờ phượng mà người Kitô hữu chỉ dành cho Thiên Chúa. Việc thờ cúng tổ tiên vừa mang tính văn hóa vừa mang ít nhiều tính tôn giáo. Việc thờ cúng trong đạo tổ tiên có thể phần nào tương tự như việc thờ kính Đức Mẹ, các thánh, các thiên thần … trong Kitô giáo, trong đó, có sự cầu nguyện, xin ơn, vì tin tưởng các ngài có khả năng phù hộ hay ban ơn cho mình cách nào đó, chứ không coi các ngài là Chúa Tể Tối Cao của muôn loài.

Nhưng dưới con mắt các thừa sai Tây Phương, thì việc thờ cúng đó là một hình thức tôn thờ mà đúng ra chỉ được phép dành cho Thiên Chúa. Chính vì thế, các vị giáo hoàng thời đó đã nghiêm cấm việc thờ cúng tổ tiên là vì các ngài hiểu đó là một lễ nghi tôn giáo mang tính thờ phượng, nhưng thực ra sự thờ kính ấy chỉ là một tập tục mang tính văn hóa dân tộc nhiều hơn là tôn giáo. Nếu có tính tôn giáo thì sự thờ cúng ấy hoàn toàn không cùng một loại với việc thờ phượng đặc biệt mà người Kitô hữu dành riêng cho Thiên Chúa.

Về sau, khi Giáo Hội hiểu được như thế, thì việc thờ kính ấy đã được Giáo Hội chấp nhận như trong huấn dụ Plane Compertum ngày 8-12-1939, cho phép Giáo Hội Trung Hoa và các Giáo Hội lân cận được phép thờ kính tổ tiên. Như vậy, sự việc đáng tiếc trên đã được giải quyết một cách êm thắm, tốt đẹp. 

Vì vậy, Hội thánh Công giáo Việt Nam có những chỉ dẫn rất cụ thể về việc tôn kính ông bà tổ tiên, đề cập đến: Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ Tiên ; việc đốt nhang hương, đèn nến và vái lạy trước bàn thờ Tổ Tiên; trong hôn lễ, dâu rể được làm nghi lễ Tổ và Gia Tiên trước bàn thờ; trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương; được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng.

Tạm kết

Tết là ngày lễ đoàn viên của mọi gia đình trên đất Việt. Tết mời gọi mọi người trở về với nguồn cội, sống tinh thần hiếu đạo, tri ân các bậc tiền nhân. Đặc biệt đối với các Kitô hữu thấy sâu sắc hơn rằng, nếu họ không hiếu thảo với ông bà cha mẹ hữu hình trên trần gian thì làm sao họ có thể hiếu thảo thật sự với Thiên Chúa, người Cha vô hình trên trời được! Như vậy lòng hiếu thảo đối với cha mẹ dưới đất, chính là sự phản chiếu và thước đo của lòng hiếu thảo và tình yêu của Kitô hữu đối với Cha trên trời. Do đó, các Kitô hữu càng yêu mến Thiên Chúa Cha thì càng thể hiện tình yêu thương ấy trong lòng hiếu thảo đối với cha mẹ mình và sẵn sàng cống hiến cuộc sống của mình cho tha nhân. Có như thế Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu cũng là Cha của mọi người, cũng sẽ nói với chúng ta cách tương tự như đã nói với Người con yêu dấu của Ngài: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 17).

Một lần nữa, ta có thể minh định rằng Chữ Hiếu là bài học đầu tiên của “Đạo làm người”, và là nền tảng đạo đức của xã hội. Kitô giáo là tôn giáo coi trọng Chữ Hiếu và đặt bổn phận hiếu kính lên hàng đầu trong các bổn phận của con người đối với nhau. Đây không chỉ là một hành động luân lý, mà còn là một điều răn được Thiên Chúa truyền dạy, một điều răn chỉ đứng sau ba răn dành riêng cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, sự hiếu kính trong đạo Thiên Chúa không phải chỉ đơn thuần được thể hiện qua các nghi lễ, mà phải được thể hiện qua chính mối quan hệ yêu thương đích thực: đó là sự hiếu thảo, kính trọng tuyệt đối dành cho Cha Mẹ. Bên cạnh đó, hiếu nghĩa còn là bổn phận của chúng ta với quê hương và đất nước. 

Cách riêng, đối với tôi là một người Kitô hữu, là một tu sĩ Dòng Thương Khó Chúa Giêsu đang sống trên quê hương Việt Nam, tôi phải làm chứng và thực thi những giá trị tốt đẹp của đạo Hiếu để làm sáng danh Chúa. Trước những thách đố của thời đại, Giáo Hội mời gọi tôi dấn thân và sống giá trị Tin Mừng ngang qua Đạo Hiếu, bởi là người tin kính Chúa thì phải là người thành tâm hiếu kính Cha Mẹ và hết lòng thực thi Lời Chúa đã truyền dạy: “Trước hết phải ăn ở hiếu thảo đối với gia đình mình, và đền ơn đáp nghĩa các bậc sinh thành. Đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa” (1 Tm 5, 4b).

Nguyễn Quốc Thắng C.P.
popup

Số lượng:

Tổng tiền: