Thứ Th 5,
18/06/2026
Đăng bởi Truyền Thông Thương Khó
HOA TRÁI CỦA PHÉP RỬA
DỰA THEO GIÁO HUẤN CỦA THÁNH PHAOLÔ
TRONG ÁNH SÁNG CỦA MẦU NHIỆM VƯỢT QUA CỦA CHÚA KITÔ

Hội thánh tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và thiên ý nhiệm mầu của Ngài là kế hoạch yêu thương đối với tất cả thụ tạo (x. Ep 1,9). Chúa Cha hoàn tất “thiên ý nhiệm mầu” này khi ban Con yêu dấu và Thánh Thần để cứu độ trần gian và để tôn vinh Danh Ngài. Công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách trọn hảo này đã được tiên báo trong Cựu Ước, nay được Đức Kitô thực hiện, đặc biệt bằng mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là bằng cuộc tử nạn hồng phúc, sự sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển của Người. Qua đó, Người đã chết để tiêu diệt sự chết của chúng ta và sống lại để tái lập sự sống.[1] Chính từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô trên thập giá mà bí tích kỳ diệu của toàn thể Hội thánh đã được phát sinh. Trong đó, bí tích Thánh tẩy là bí tích quan trọng nhất, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thiêng liêng Kitô giáo. Nhờ bí tích này, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và được tái sinh làm con cái Thiên Chúa, được trở thành chi thể của Đức Kitô, được tháp nhập vào Hội thánh và được tham dự sứ vụ của Hội thánh.[2]
1. Ân sủng của bí tích Thánh tẩy theo thánh Phaolô
Trong các thư của ngài, thánh Phaolô trình bày cho chúng ta các hiệu quả khác nhau của bí tích Thánh tẩy. Nhờ bí tích này, tín hữu được hiệp thông vào mầu nhiệm Thương khó và Phục sinh của Đức Kitô. Khi được dìm vào nước thanh tẩy là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Chúa Giêsu. Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới (x. Rm 6,3-4 ; Cl 2,12). Bí tích Thánh tẩy làm cho tín hữu được tẩy sạch, được thánh hóa và được nên công chính (x. 1Cr 6,11). [3]
1.1. Tha tội
Bí tích Thánh tẩy là bí tích đầu tiên và chính yếu để tha tội, bởi vì bí tích này kết hợp chúng ta với Đức Kitô, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại để chúng ta được nên công chính (x. Rm 4,25). Đức Giêsu là Ađam mới trổi vượt muôn phần so với Ađam cũ: việc làm bất chính của Ađam cũ khiến cho sự chết thống trị trần gian, lẽ công chính do Ađam mới thực hiện ban ân sủng dồi dào và làm cho mọi người được sống; sự bất tuân của Ađam cũ làm cho muôn người thành tội nhân thì sự tuân phục của Ađam mới làm cho muôn người thành thánh nhân (x. Rm 5,12-21). Nhờ cái chết của Đức Giêsu, Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta bằng cách đóng đinh tất cả mọi tội lỗi của chúng ta vào thập giá (x. Cl 2,13-14).
1.2. Tái sinh nên thụ tạo mới
Bí tích Thánh tẩy không những rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tín hữu mặc lấy Đức Kitô (x. Gl 3,27), trở nên một thụ tạo mới (x. 2Cr 5,17), thành nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5-7) và được thông phần bản tính của Người (x. 2Pr 1,4). Như vậy, bí tích Thánh tẩy đưa con người từ trong bóng đêm tội lỗi bước vào miền ánh sáng diệu huyền. Từ chốn tử vong, Đức Kitô trỗi dậy để đánh thức chúng ta khỏi giấc ngủ mê, chiếu sáng để hướng dẫn chúng ta sống như con cái ánh sáng (x. Ep 5,8-10.14). Những ai được trỗi dậy cùng với Đức Kitô thì đóng đinh các dục vọng và đam mê của mình vào thập giá (x. Gl 5,24). Họ được mời gọi hướng lòng trí về thượng giới (x. Cl 3,1-3) để được đồng thừa tự với Con Thiên Chúa (x. Rm 8,7).
1.3. Tháp nhập vào Hội thánh
Bí tích Thánh tẩy không chỉ tái sinh con người nên một thụ tạo mới mà còn tháp nhập họ vào một cộng đoàn mới do chính Chúa Kitô thiết lập.[4] Từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Giêsu trên thập giá, máu của Giao ước mới đã đổ ra (x. 1Cr 11,25). Giao ước này quy tụ một Dân mới của Thiên Chúa gồm những người được tái sinh bởi nước và Thánh Thần (x. Ga 3,5-6).[5] Dân này vượt lên trên mọi ranh giới về lãnh thổ, sắc tộc, văn hóa. Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là Đấng cứu độ đã tự hiến để cứu chuộc con người cho thoát khỏi mọi điều bất chính và thanh luyện họ, khiến họ thành Dân riêng của Người (x. Tt 2,13-14). Bí tích Thánh tẩy tháp nhập chúng ta vào Hội thánh - Dân tư tế của Thiên Chúa. Người tín hữu lãnh nhận bí tích Thánh tẩy trở thành phần tử của Hội thánh, họ được Thiên Chúa trả giá đắt để chuộc về nên không còn thuộc về chính mình nữa (x. 1Cr 6,19), nhưng thuộc về Đấng đã chết và đã sống lại vì mình (x. 2Cr 5,15).
1.4. Hiệp nhất các Kitô hữu nên một
Tất cả chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể và mỗi người là một bộ phận (x. 1Cr 12,13.27). Chúng ta là phần thân thể của nhau (x. Ep 4,25) và của Đức Kitô (x. 1Cr 6,15), do đó chúng ta liên đới và hiệp thông với nhau. Các Kitô hữu được mời gọi để có “cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (Pl 2,2), tuân phục lẫn nhau (x. Ep 5,21 ; 1Cr 16,15-16), vâng lời và phục tùng các vị lãnh đạo của Hội thánh với lòng kính trọng và quý mến (x. 1Tx 5,12-13) và phục vụ người khác trong sự hiệp thông của Hội thánh (x. Ep 6,7). Trong thế giới của những con người mới đã được Đức Kitô thiết lập nhờ bí tích Thánh tẩy, những giới hạn phân rẽ con người như chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, giai cấp, giới tính đều không còn nữa. Tất cả đều bình đẳng trong Chúa Kitô (x. Cl 3,11). Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Đức Kitô đã xây dựng hòa bình, phá đổ bức tường thù ghét ngăn cách giữa dân Do Thái và dân ngoại, liên kết đôi bên nên một (x. Ep 2,14-16). Đức Kitô đã quy tụ chúng ta vốn là những kẻ ở xa thành những người ở gần để cùng nhau làm thành một thân thể duy nhất, một ngôi đền thánh cho Thiên Chúa ngự nhờ Thần Khí (x. Ep 2,13.19-22). Đức Kitô là Đầu, người làm cho các bộ phận kết cấu chặt chẽ và ăn khớp với nhau, mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình để toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái (x. Ep 4,16).
1.5. Ban ấn tín bất khả tẩy xóa
Tín hữu lãnh nhận bí tích Thánh tẩy được tháp nhập vào Đức Kitô, được nên đồng hình đồng dạng với Người (x. Rm 8,29) và nên đền thờ Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 6,19). Bí tích này ghi trên Kitô hữu một ấn tín thiêng liêng bất khả tẩy xóa để cho thấy họ thuộc về Đức Kitô. Ấn tín này thánh hiến họ để lo việc thờ phượng Thiên Chúa qua việc thực thi chức tư tế phổ quát, tham dự sống động vào phụng vụ thánh của Giáo hội và làm chứng bằng một đời sống thánh thiện.[6] Chúng ta được đóng ấn Thánh Thần để chờ ngày Dân mới của Thiên Chúa được cứu chuộc (x. Ep 1,13-14; 4,30 ; 2Cr 1,22). Bí tích Thánh tẩy là dấu ấn của đời sống vĩnh cửu.[7] Kitô hữu sống trong niềm mong đợi được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa và trong niềm hy vọng sống lại, đó là sự hoàn tất đức tin.
2. Bí tích Thánh tẩy trong công cuộc đối thoại liên tôn và đại kết
“Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ”, chúng ta phải hiểu thế nào về lời này của Giáo phụ Cyprianô? Dưới ánh sáng của Công đồng Vaticanô II, khẳng định này có nghĩa là toàn bộ ơn cứu độ phát xuất từ Đức Kitô là Đầu và nhờ Hội thánh là Nhiệm thể của Người. Chỉ một mình Đức Kitô là trung gian và là con đường của ơn cứu độ, Người hiện diện giữa chúng ta trong Nhiệm thể Người là Hội thánh. Qua việc minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và phép Rửa, chính Đức Giêsu đã xác nhận sự cần thiết của Hội thánh (x. Mc 16,16 ; Ga 3,5). Hội thánh lữ hành này là cần thiết để được cứu độ. Bí tích Thánh tẩy là cánh cửa để mọi người bước vào Hội thánh. Vì vậy, những ai biết rằng Hội thánh Công giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giêsu Kitô như phương tiện cứu rỗi cần thiết, mà vẫn không muốn gia nhập, hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội thánh này, thì không thể được cứu độ. [8]
2.1. Đối thoại liên tôn
Hẳn nhiên, lập trường trên đây của Giáo hội Công giáo không nhắm vào những ai không vì lỗi của mình mà chưa biết đến Tin Mừng của Đức Kitô. Những anh chị em ngoài Kitô giáo mà thành tâm tìm kiếm sự thiện và hành động theo tiếng lương tâm thì vẫn có thể đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu. Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được sống, vì thế Ngài cũng không từ chối ban ơn trợ lực cần thiết để họ được cứu độ. Giáo hội xem tất cả những gì là chân thật và thiện hảo nơi họ như một sự chuẩn bị cho Tin Mừng, mà thánh Giáo phụ Justinô gọi là “hạt giống của Lời - λόγος σπερματικός. Nhưng bản tính bị tổn thương của con người khiến họ dễ đi lầm đường lạc hướng hoặc cũng có khi rơi vào thất vọng. Chính vì thế, Giáo hội hằng tận tâm cổ võ việc truyền giáo. [9]
Lý do của hoạt động truyền giáo gắn liền với ý định của Thiên Chúa, Đấng muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Chỉ có một trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, đó là Đức Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa Nhập Thể, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc muôn người” (x. 1Tm 2,4-6). Dẫu rằng Thiên Chúa có thể dùng những đường lối riêng của Ngài để đưa những kẻ không vì lỗi mình mà chưa nhận được Tin Mừng đến với đức tin, nhưng Giáo hội có bổn phận, đồng thời cũng được Chúa trao quyền loan báo Tin Mừng. Nhờ hoạt động truyền giáo, Nhiệm thể Chúa Kitô không ngừng liên kết và phối hợp mọi năng lực giúp cho toàn thân được tăng trưởng (x. Ep 4,11-16) để quy tụ toàn thể nhân loại thành đoàn Dân duy nhất của Thiên Chúa, thành Thân thể duy nhất của Chúa Kitô và nên Đền thờ duy nhất của Chúa Thánh Thần. [10]
2.2. Đối thoại đại kết
Ngay từ những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội đã chấp nhận phép Rửa do những thành viên thuộc các nhóm ly giáo cử hành. Giáo hoàng Stêphanô I trong lá thư năm 256 gửi thánh Cyprianô - Giám mục Carthage đã đề nghị chỉ cần đặt tay trên những người trở lại để họ bày tỏ lòng sám hối mà không cần cử hành phép Rửa lại cho họ. [11]
Dựa trên thần học của thánh Tôma Aquinnô, Công đồng Florence (1438-1445) trong Sắc chỉ Exultate Deo về sự hiệp nhất với người Armenia (22-11-1439) đã trình bày tầm quan trọng, chất thể, mô thể, thừa tác viên và hiệu lực của bí tích Thánh tẩy.[12]
Sắc lệnh Unitatis Redintegratio về phong trào Đại kết của Công đồng Vaticanô II đánh giá cao ý nghĩa đại kết của bí tích Thánh tẩy. Những người tin vào Chúa Kitô và đã lãnh nhận bí tích Thánh tẩy thành sự, vẫn hiệp thông cách nào đó với Giáo hội Công giáo vì họ đã được công chính hóa nhờ đức tin, đã được tháp nhập vào Chúa Kitô và vì thế có quyền mang danh Kitô hữu và đáng được con cái của Giáo hội Công giáo nhìn nhận là anh em trong Chúa.[13] Năm 1987, Ủy ban hỗn hợp quốc tế đặc trách đối thoại thần học giữa Giáo hội Công giáo Rôma và Giáo hội Chính thống trong văn kiện Đức tin, Bí tích và mối hiệp thông Giáo hội đã nhất trí về những điểm chính yếu của bí tích Thánh tẩy: sự cần thiết của phép Rửa để được cứu độ; công hiệu của phép Rửa: giải phóng con người khỏi nguyên tội, sáp nhập vào Giáo hội và khai mở đời sống mới trong Chúa Kitô; dù rằng hai bên còn một vài điểm bất đồng về thứ tự cử hành ba bí tích khai tâm đối với trẻ em. [14]
Nhờ bí tích Thánh tẩy, con người được thật sự tháp nhập vào Đức Kitô chịu đóng đinh và được tôn vinh, đồng thời được tái sinh để thông phần sự sống Thiên Chúa: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép Rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cl 2,12). Vậy phép Rửa tạo nên mối dây bí tích của sự hợp nhất giữa tất cả những người đã được tái sinh. Tuy nhiên, phép Rửa mới chỉ là bước khai tâm và khởi đầu hành trình. Đích điểm của bí tích này là đạt tới sự sống sung mãn trong Đức Kitô. Như thế, bí tích Thánh tẩy hướng đến việc tuyên xưng trọn vẹn đức tin, gắn kết và hoà nhập trọn vẹn vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. [15]
Juse Martino di Cristo Bùi Tấn Tài, C.P.
[1]. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 5.
[2]. GLHTCG, số 1213.
[3].Sđd., số 1262-1274.
[4].Bearbeitet Von Gunter Koch, Bí tích học qua các tác giả, Bd. Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, (TP.HCM: Theos, 1991), số 210.
[5].Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 9.
[6].Sđd., số 11.
[7].GLHTCG, số 1274.
[8].Công đồng Vaticanô II, Sđd., số 14.
[9].Sđd., số 16.
[10].Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 7.
[11].Heinrich Denzinger, Các Tín biểu, Định tín và Tuyên bố của Giáo hội Công giáo trong lãnh vực đức tin và phong tục, Dg. Nguyễn Văn Hòa, O.P., (Hà Nội: Tôn giáo, 2019), số 110.
[12].Sđd., số 1314-1316.
[13].Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Unitatis Redintegratio, số 3.
[14].Bearbeitet Von Gunter Koch, Bí tích học qua các tác giả, Bd. Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, (TP.HCM: Theos, 1991), số 196-200.
[15].Công đồng Vaticanô II, Sđd., số 22.