Nội Dung
I. Một số thuật ngữ liên quan đến bài triết luận cần được làm rõ
1. Dasein
2. Phân biệt giữa Hiện sinh (Existentiell) và Nguyên hữu (Existential)
3. Hữu hạn tính (Finitude)
II. Hữu hạn tính của Dasein
III. Hiện hữu quy tử đưa con người tới hiện hữu trọn vẹn
IV. Kết luận
Có thể nói, “hữu thể” là vấn đề nòng cốt trong tác phẩm “Hữu thể và Thời gian” của Heidegger, thậm chí trong toàn bộ tư tưởng của ông. Sở dĩ, câu hỏi về “hữu thể” được đặt ra, bởi con người luôn ý thức về hữu hạn tính của mình. Một cách nào đó, Heidegger muốn quy “hữu hạn tính” của hữu thể cho cái chết. Cụ thể là ngay mục I một của phần 2 tác phẩm, ông đã khẳng định rằng: “Con người là một hiện hữu quy tử.”
Thoạt nghe, câu nói toát ra một màu sắc bi thương cho số phận con người. Nhưng khi dẫn thân vào tác phẩm, người đọc có thể nhận rằng con người cần phải đối diện với hữu hạn của mình để tìm ra ý nghĩa cho cuộc sống, cho các câu hỏi: Tại sao lại có mà không phải là không có? Có phải con người sinh ra chỉ để chết? Để đáp lại các vấn đề vừa được nêu, trong bài triết luận này người viết sẽ bắt đầu việc giải thích các thuật ngữ liên quan đến vấn đề; tiếp đến là xét “hữu hạn tính nơi” Dasein - hiện hữu truy vấn về chính hiện hữu của mình; cuối cùng người viết sẽ bàn về “hiện hữu quy tử” - giới hạn đưa Dasein tới sự toàn vẹn.
I. Một số thuật ngữ liên quan đến bài triết luận cần được làm rõ
Heidegger không chỉ là một nhà tư tưởng mà ông còn là người có tài vận dụng ngôn ngữ, sáng tạo những từ ngữ riêng biệt để giải thích cho tư tưởng của mình. Có những từ ngữ rất quen thuộc, nhưng ông khoác cho chúng một ý nghĩa khác biệt. Vì vậy, để có thể theo bước Heidegger, đầu tiên, ta cần làm rõ một số thuật ngữ có liên quan.
1. Dasein
Ở phần một, Heidegger đã cho thấy vấn đề quan tâm bậc nhất của ông là vấn đề “hữu thể”. Ngay dòng đầu tiên của tác phẩm, ông đã viết: “Câu hỏi về hữu ngày nay đã bị rơi vào quên lãng.” Chính vì quên lãng nên ta phải nhắc lại, truy vấn lại cho tỏ tường. Hữu thể là gì? Hữu thể có ý nghĩa như thế nào? Khi con người biết đặt câu hỏi, hẳn con người cũng có linh cảm gì đó về hữu thể. Nếu hoàn toàn không hay, không biết thì tại sao lại đặt câu hỏi? Ở khía cạnh nào đó, khái niệm hữu thể là một điều gì đó quá hiển nhiên đối với con người. Hiển nhiên đến mức độ nó trở thành mơ hồ. Vì sự hiển nhiên nên con người đã quên lãng nó. Nhưng rồi, Heidegger đã lôi hữu thể ra khỏi lớp bụi thời gian, đặt nó ra trước để chiêm ngắm và truy vấn.
Cuộc truy vấn khởi đi từ chính con người. Vì xét cho đáo cùng, trong cõi đất trời này chỉ có một vật thể duy nhất có thể suy tư về hữu thể mà thôi. Cái vật thể tồn sinh có được ơn ban ấy chính là con người. Vậy thì, đối tượng của cuộc truy vấn là hữu thể của chủ thể truy vấn. Heidegger gọi là Dasein. Dasein chính là con người. “Nhiệm vụ về việc phân tích Hữu thể luôn là của chúng ta” . Khi con người có nhận thức thì đã nhận ra mình hiện hữu ở thế giới này. Heidegger gọi Dasein là hữu tại thế (being in the world). Dasein có ý nghĩa đặc biệt và uyển chuyển trong tư tưởng của Heidegger, nên khó có thể chuyển dịch sang ngôn ngữ khác mà vẫn giữ được ý nghĩa nguyên sơ của nó. Bên cạnh đó, cũng thật khó cho người viết để tát cạn ý nghĩa của từ Dasein trong giới hạn bài viết này. Vì lẽ đó, người viết chỉ lấy một vài nét đặc trưng của khái niệm Dasein.
Từ Dasein trong tiếng Đức trước thời Heidegger có nghĩa là “hiện hữu”, trong ngôn ngữ bình dân người ta hiểu Dasein là một hiện hữu nào đó. Nhưng Heidegger cho rằng người ta dùng từ “hiện hữu” để nói về vật này vật nọ, trong khi vấn đề là họ vẫn chưa thực sự hiểu “hữu” là gì. Cho nên Heidegger đã giải thích và thổi vào Dasein ý nghĩa mới. “Da” không còn là ở đó một cách thụ động nữa, nhưng là “đối diện”, “mở ra”, “phô ra”. Như vậy, “Da” không còn là đối thể khép kín để chụp bắt, mà luôn mở ra cho những điều mới lạ. “Sein” không còn là danh từ thụ động nữa, nhưng là động từ uyển chuyển, có nghĩa hành động để hiện hữu, chớ không bị động theo nghĩa là “được làm cho hiện hữu”. Như vậy, một cách nào đó Heidegger sử dụng từ Dasein để quy cho con người - Một hiện hữu như là một hiện diện. Không phải là một sự hiện diện giống như cái bàn hiện diện bên cái tủ, nhưng Dasein là “sự hiện diện với”, “sống với”, “thấm nhập” để làm cho thế giới này có ý nghĩa.
Vì vậy, Dasein không thể nào là một đối tượng để lắm bắt. Dasein không chỉ là cái hiện diện ở đó, nhưng cũng là cái gì đó hiện diện rất mực kín đáo. Như vậy, liệu ta có thể nói gì về Dasein không? Nếu nói được thì bằng cách nào để tiếp cận Dasein? Để trả lời cho các vấn đề đó, ta phải đi phân tích chiều kích hiện sinh (Existentiell) để đi đến với chiều kích nguyên hữu (Existential) của Dasein. Nghĩa là tiếp cận với các trạng huống tồn sinh cụ thể của Dasein trong thế giới (being in the world), để từng bước vén mở tầm màn che khuất bản thể uyên hữu.
2. Phân biệt giữa Hiện sinh (Existentiell) và Nguyên hữu (Existential)
Trong quá trình đặt vấn đề về Hữu thể, Heidegger đã dùng phương pháp hiện tượng luận của thầy mình là Edmund Husserl để mô tả những trạng huống tồn sinh cụ thể của Dasein, rồi men theo đường hướng cụ thể đó, từng bước vén mở tấm màn che khuất, để tiếp cận đụng chạm đến chiều kích nguyên hữu của hữu thể. Dựa vào phương pháp này, theo Heidegger ta có thể diễn tả Dasein ở 3 cấp độ suy tư khác nhau. Cấp độ hiện sinh (Existentiell), ở cấp độ này ta miêu tả hữu thể ở mức độ thực thể ontic (tại), bắt đầu bằng sự quan sát sự tồn hoạt của hữu thể trong các cảnh huống cụ thể. “Hữu thể luôn ở trong hình thức là hữu tại thế.” Dasein bị quăng ném bỏ rơi vào thế giới này, bị giới hạn bởi những hoàn cảnh cụ thể. Trong hoàn cảnh đó, Dasein phải chọn lựa cách thức để hiện sinh. Dường như, đây vẫn chưa phải là điều mà Heidegger thực sự quan tâm. Vì ngay tựa đề quyển sách, ông đặt tên tác phẩm là “Hữu thể và Thời gian”.
Vấn đề ông nung nấu là vấn đề hữu thể chớ không phải “thực thể tồn sinh” ở đó. Như thế, theo ông, ta cần suy tư ở cấp độ hữu thể ontological (hữu), miêu tả các cơ cấu ẩn hiện của Dasein trong chiều kích nguyên hữu (Existential) của nó. Tuy nhiên, ông hoàn toàn không có ý miệt thị cuộc sống hiện sinh của con người. Nói cách khác, ông muốn thiết lập một bản thể học trên việc phân tích các hiện tượng cụ thể. Từ đây, ta có thể tiếp cận đến mức độ suy tư thứ 3 đó là ontic-ontological (tại-hữu), chính là Dasein xét như một tổng thể.
3. Hữu hạn tính (Finitude)
Về mặt ngữ nghĩa, cụm từ “hữu hạn” thực sự không khó để hiểu. “Hữu” có nghĩa là có.“Hạn” có nghĩa ở mức độ nào đó. “Hữu hạn” có nghĩa là có ở đó tới một mức nào đó. Tuy nhiên, trong khi ta vạch ra một hữu hạn thì trong đầu ta đã tiền giả định một điều vô hạn. Ta nhận thức được là ta chỉ đạt tới hữu hạn này thôi, ngoài hữu hạn này ra là một khoảng không vô hạn nào đó mà ta không thể biết được. Tuy nhiên, nhờ vào hữu hạn, mà con người có được cái linh cảm mập mờ của cái vô hạn, rồi người ta gán ghép cho từ “hữu hạn” một ý nghĩa tiêu cực bởi nó giới hạn con người ta lại. Từ đó, trong suốt bề dày của lịch sử triết học, con người muốn chối bỏ cái “hữu hạn” để đi tìm cái “vô hạn” siêu hình nào đó mà khả thể của nó còn đáng ngờ. Điều này “được duy trì một sự tra vấn mãnh liệt của Plato và Aristole, nhưng sau đó lại im hơi lặng tiếng, không còn là một vấn đề nghiên cứu thực sự mang tính chủ đề nữa. Những kết quả của hai nhà tư tưởng được lưu lại bằng nhiều hình thức méo mó và bị “tô vẽ” cho tới tận hình thức Logic của Hegel.” .
Nhưng thực chất, chính hữu hạn là tiếng gọi hữu thể, là tiếng gọi vang lên từ sâu thẳm của cội nguồn, để lôi kéo hữu thể ra cõi người ta (the they) để sống với bản chân của mình. Chính hữu hạn làm cho Dasein đong đầy. Sở dĩ ta nói cái li nước này đầy rồi, bởi ta thấy được cái ranh giới hữu hạn của cái li. Cái hữu hạn làm cho cái li được đong đầy. Tương tự, khi tôi nói đây là cuộc sống của tôi, nghĩa là, trong cái giới hạn cụ thể này, tôi có thẩm quyển để làm cái gì tôi muốn. Tôi hoàn toàn được tự do trong giới hạn này. Như vậy, trong hữu hạn của tôi, “tôi chính là tôi”. Không ai có quyền xâm phạm, hay sống cho tôi. Như vậy, một cách nào đó, hữu hạn không phá bỏ tự do, nhưng ngược lại tạo ra một khung trời tự do siêu việt. Trong hữu hạn đó là một khung trời riêng tư và cá biệt. Nó chỉ được ban tặng riêng cho tôi mà thôi. Và chỉ khi tôi chấp nhận cái hữu hạn này, thì tôi mới thực sự là tôi.
II. Hữu hạn tính của Dasein
Nhìn vắn lược bề dày của lịch sử triết học trước thời Heidegger, người ta thấy rằng con người mang một khao khát vượt “hạn”. Con người tìm cách truy vấn về cái vô hạn, và đặt tên cho nó là siêu hình học (Metaphysics). Tiền tố Meta thể hiện rõ điều này. Tuy nhiên với Heidegger, Dasein là một hiện hữu trong thế giới này, là hiện hữu rõ ràng có đó: Dasein là cái thể hiện cụ thể mà con người cần học hiểu khám phá chứ không cần phải nỗ lực chứng minh nữa. Để khám phá Dasein, con người phải đối diện với “hữu hạn” của nó. Đó là hữu tại thế (In – der – Welt-sein) bị quăng ném bỏ rơi trong thế giới làm nó xao xuyến lo âu.
Vì vậy, trước khi tìm hiểu hữu hạn tính của Dasein, ta cần phải phác họa cái cấu trúc của “hữu tại thế” trong sự thống nhất giữa 3 chiều kích: hiện tượng luận, hiện sinh, và nguyên hữu. Dasein không hiện hữu ở trong thế giới theo nghĩa không gian, như rượu ở trong li, mà mối liên kết này mang chiều kích sâu thẳm hơn. Như đã bàn ở trên, từ sein vừa là danh từ thể hiện sự tồn tại, vừa là động từ thể hiện hoạt động tồn tại, và “thế” (the world) ở đây cũng không phải là bình chứa. “Tại” ở đây cũng không có nghĩa như cây viết ở tại cái bàn, nhưng có nghĩa là “thẩm thấu”, “hấp thụ vào”. Như vậy, ta không thể hiểu “hữu tại thế” theo nghĩa là có sẵn một thế giới và Dasein xuất hiện chỉ để kết nối sự vật này với sự vật kia một cách riêng rẽ. Vì “Dasein vốn dĩ là siêu vượt và Dasein phóng vượt về phía thế giới: phóng vượt tức là hiện –hữu –giữa – thế – giới.”
Như vậy, chỉ cần nhắc tới Dasein là ta có ý nói tới “hữu tại thế”, “thế giới không có trước con người, nhưng chỉ xuất hiện nơi khai độ cho con người thôi.” Chính sự xuất hiện của con người mới có thế giới. Trong một lần giảng ở trong giảng đường đại học, Heidegger đã dùng ngọn hải đăng để nói đến sự khai độ của Dasein. Khi ngọn hải đăng chiếu tới đâu thì tất cả được tỏ lộ, nhưng không phải là thế giới tự thân sẵn có phản chiếu làm ra thế giới hiện tượng cho con người theo cách nói của Kant. Ngược lại, ngọn hải đăng tiếp thông, thấm nhập vào thế giới. Một cách nào đó, Heidegger cho rằng Dasein mang trong mình cơ cấu “vươn tới” để khám phá. Hay nói cách khác, Dasein luôn ném mình về phía trước. Vì vậy, Dasein không là một hiện hữu đã có cô đọng ở đó, nhưng nó luôn vận động tiến tới. Hiện hữu Dasein không phải là một quà tặng bất động, nhưng là một quà tặng còn thiếu hụt cần được làm đầy và đạt tới.
Như thế, Heidegger cho rằng bản chất của Dasein có tính cách lịch sử, trải dài theo dòng thời gian, có một bắt đầu và tận kết. Đó là một sự phát sinh, tồn tại biến đổi, triển nở… trong cái gọi là thế giới. Vì vậy, Dasein luôn biến đổi, luôn là hiện hữu trước nó (being ahead of itself). Dasein mang trong người cấu trúc dự phóng, hiện hữu luôn là hiện hữu trước nó. Vì thế, Dasein không phải là một hiện hữu cứng đọng, đã được hình thành để rồi ta có thể phân tích, chỉ trỏ. Những cái hiện diện ra đó chỉ là tồn tại ở mức hiện sinh tồn hoạt ở đó, nhưng qua việc phân tích cái hiện sinh ra đó ta có thể đạt đến mức nguyên hữu của nó.
Khi con người có nhận thức, thì con người nhận ra tôi đang tồn tại ở thế giới này. Dasein bị quăng ném vào thế giới này, bị chênh vênh như bị bỏ rơi ở chốn phố thị đông người làm nó xao xuyến lo âu. Như thế, ngay từ thuở đầu Dasein đã bị đẩy ra khỏi cội nguồn, phiêu bạt giữa lòng thế giới này. Cho nên, hiện hữu dưới dạng Dasein, một cách nào đó, là “một hiện hữu thiếu hụt (something outstanding)” . Dasein như trên cuộc phiêu lưu tìm lại cội nguồn. Cuộc hành trình này phát sinh ra thời gian. Nhưng, “thời gian ban sơ là hữu hạn” .
Như vậy, khi được quăng ném vào thế giới này Dasein không còn nguyên vẹn như nó là, luôn ở trong tình trang thiếu hụt. Cho nên, Dasein có một số đặc tính (1)“vẫn còn cái gì đó vẫn chưa thuộc về nó(thiếu hụt); (2) Hiện hữu tiến tới hữu hạn của nó là tiến tới những cái nó chưa thuộc về. Ở đó, cái thiếu hụt sẽ bị loại trừ; (3) tiến tới hữu hạn là một hình thức của hiện hữu, ở đó hiện thể Dasein phải được tỏ lộ qua chính bản thân Dasein.” Nói nôm na, Dasein giống như một bức tranh chưa được hoàn thành, nó luôn luôn mở ra các khả thể trước nó cho tới khi Dasein tiến tới “quy tử”, tương tự như bức tranh chỉ được hoàn thành khi người nghệ sĩ đặt nét vẽ cuối cùng. “Trong Dasein có các mảnh chắp phá cái mà ta chỉ tìm thấy được khi hiện hữu tiến tới quy tử. Heidegger diễn tả tình trạng hữu hạn và thiếu hụt qua hình ảnh một món nợ (debt). Cái phần còn thiếu của món nợ cần được trả là “cái thiếu hụt”. Cái thiếu hụt là cái chưa có sẵn. Giảm trừ món nợ bằng việc trả bù vào cái còn thiếu, tiền được thu về, nghĩa là, các phần còn thiếu được trả dần, qua đó những cái “chưa là” được làm đầy cho tới khi tổng nợ được trả hết.
Như thế, Dasein buộc phải có hữu hạn, vì nếu không có hữu hạn thì Dasein sẽ luôn là một Dasein tiềm thể, luôn trong tình trạng thiếu hụt. Vì thế, sự kết thúc của Dasein cũng chính là lúc nó đạt đến sự viên mãn. “Chết đưa đến sự tròn đầy; và sự thật là nó làm cho Dasein ở trong tình trạng viên mãn. Vì vậy, chết phải trở thành đề tài của việc tra vấn nếu muốn sự phân tích Dasein tiến tới trọn vẹn.” Vậy, có thể nói chết là chìa khóa dẫn ta đến với các đặc tính của Dasein. Theo Heidegger “hiện hữu quy tử” có các đặc tính: “ thể hiện chính nó như một khả tính nội tại riêng tư (ownmost) , chết là cắt đứt mọi mối quan hệ, là một điều chắc chắn, không thể định nghĩa, và là một khả thể không thể tránh khỏi” .
“Cái khả tính nội tại riêng tư của tôi” có nghĩa là cái chết chỉ dành cho riêng tôi. “Không ai có thể lấy cái chết ra khỏi tôi. Không ai có thể chết thay cho tôi. Khi một người hy sinh mạng cho tôi thì thật ra người đó đem cái chết của chính họ thay cho cái chết của tôi. Như vậy chết là một khả tính riêng biệt nhất trong đó mỗi người đảm nhận tính thể của mình trong toàn thể. Vì vậy, hữu hạn này là của riêng tôi. Chính tôi phải đương đầu với giới hạn này. Và chỉ khi Dasein tiến tới ranh giới của cái chết, thì Dasein mới thực sự là Dasein hiện thể xét như một tổng thể.
Như vậy, hữu hạn không đánh mất tự do của con người, nhưng tạo ra một khung trời nguyên hữu, trong khung trời đó Dasein có tự do để chọn lựa hai khả tính nền tảng. Đó là đảm đương vận mệnh riêng biệt của mình hay trốn tránh nhiệm vụ ấy bằng cách đắm chìm trong cõi người ta (das Man). Chính hữu hạn này như tiếng gọi lương tâm kéo bật Dasein ra khỏi cõi người ta (the They), để sống như một hiện hữu bản chân. Chết cũng là cắt mọi mối liên lạc với các các Dasein của tha nhân. Cái chết phá hủy cơ cấu nền tảng của Dasein, tức là phá hủy tính tại thế của tôi. Chính bản thân Dasein không còn hiện hữu ở trên thế gian này nữa để tiếp tục chứng kiến cuộc hiện hữu. Chết là bước tới bờ vực lạnh lẽo của hư vô. Mặc dù, cái chết đưa Dasein tiềm thể đến một Dasein hiện thể tròn đầy không thiếu hụt, nhưng Dasein lại không còn là một hữu tại thế. Vì không còn là một hữu tại thế tồn sinh trong một cảnh huống cụ thể mà chúng ta gọi là Thế giới, nên cái chết phá tan mọi tương giao của tôi, đưa tôi đến trạng huống cô lập tuyệt đối.
Chết cũng là điều chắc chắn phải xảy ra. Thực sự, Dasein không biết khi nào cái chết sẽ ập đến mình. Lưỡi hái tử thần luôn sẵn sàng chấm dứt sự sống của Dasein. Cái chết như là một huyền nhiệm của con người, nó có đó nhưng ta không thể nắm bắt, không thể định nghĩa, và cũng không thể vượt thắng. Ta chỉ biết phơi mình ra đón nhận.
Như vậy, phải chăng chết là hết, và con người chỉ sống để chết thôi hay sao? Và nếu như vậy thì những điều Heidegger vạch ra ở các chương trước không còn ý nghĩa gì nữa. Tất nhiên, một thiên tài triết học sẽ không để điều đó xảy ra.
III. Hiện hữu quy tử đưa con người tới hiện hữu trọn vẹn
Tiếp với vấn đề ở trên, ta có thể đặt ra câu hỏi rằng liệu có bất kì nỗ lực nào có thể nắm bắt được hiện hữu của Dasein ở trong tình trạng viên mãn của nó hay không? Bởi vì tính siêu việt của Dasein, nên Dasein luôn là hiện hữu trước nó. Dasein luôn thiếu hụt khi Dasein còn là “hữu tại thế”. Nhưng khi Dasein tiến tới quy tử, thì Dasein không còn ở đó để có thể chứng kiến toàn vẹn tính của nó. Lúc Dasein còn ý thức về mình, thì Dasein vẫn còn là “hữu tại thế”. Khi Dasein viên mãn, thì lúc đó Dasein lại hết ý thức về mình.
Mấu chốt của vấn đề là cái chết. Cái chết mang hiện hữu đến ranh giới cuối cùng của nó, nhưng “không ai có thể kinh nghiệm cái chết của tôi” . Wittgenstein cũng đã nói: “Cái chết của một người không phải là một sự kiện của cuộc đời người đó.” Đúng thế, chết không phải là một sự kiện để ta có thể nắm bắt, nhưng nó cả là một biến cố đối với Dasein. Mặc dù, Dasein có thể liên kết với cái chết của người khác, nhưng nó không có nghĩa là ta có thể nắm bắt được cuộc sống của người đó như một tổng thể. Cho dù, ta có thể kinh nghiệm được sự chuyển tiếp từ “hữu tại thế” tới việc không còn hiện hữu ở đó nữa, cũng như ta có thể kinh nghiệm sự mất mát qua nghi thức án táng... Nhưng tất cả chỉ là kinh nghiệm của những người còn sống, chớ không phải là kinh nghiệm của người đã khuất. Cái chết đối với Dasein không phải là một giới hạn ở trong cách thức như cái khung của bức ảnh, hay một viên đá lát đường giới hạn con đường lại. Cái khung giới hạn bức tranh, nhưng nó không phá hủy bức tranh. Ngược lại, chết phá hủy mọi cơ cấu của Dasein.
Tuy nhiên, đây không phải là hòn đá ngăn bước Dasein tiến tới sự viên mãn của nó. Nhớ lại, ở phần đầu, Heidegger nhắc tới cấu trúc siêu vượt của Dasein, luôn phóng mình về phía trước. Dasein luôn lo lắng cho những gì ở trước nó. Và đây, là chìa khóa để bước tới “bờ hương chín”, hay Dasein tròn đầy. “Vấn đề về một khả thể tròn đầy của hiện hữu “cái mà chúng ta là” chỉ tồn tại khi sự lo âu như là cấu trúc siêu vượt của Dasein được liên kết mật thiết với cái chết như một khả thể của bất khả thể tuyệt đối.” Như vậy, chỉ khi nào ta đặt cái chết ở trước mình để buộc mình phải luôn lựa chọn để sống, thì chính lúc đó mình sống đúng với bản chân của mình. Vì vậy, Heidegger mới nói: “Con người khi sinh ra đã đủ già để chết”. Nghĩa là mỗi giây phút sống là một ân ban, và chỉ khi Dasein luôn đặt mình trước cái chết thì con người ta mới sống hoàn toàn tự do với những lựa chọn của mình. Như vậy, Dasein luôn sẵn sàng đảm đương phận mệnh của mình bằng việc phơi mình ra, sẵn sàng để đón nhận cái chết. Do vậy, Dasein có thể cảm nhận được toàn thể tính của nó.
IV. Kết luận
Chết là tiến tới bờ vực lạnh lẽo của hư vô, là tình trạng trái chín lìa cành, là cung đàn đứt dây. Đó là “khả thể của bất khả thể tuyệt đối (possiblity of absolute impossiblity)”. Nghĩa là, cái chết là một khả thể bắt buộc phải xảy ra, và khi xảy ra nó sẽ hủy hoại tất cả mọi khả thể khác. Chết là một một nhát dao cắt lìa mọi khả thể của hiện hữu con người. Như thế, chết có phải là chấm dứt tất cả không? Câu trả lời của Heidegger có lẽ là “không”, bởi theo Heidegger chết chỉ là ranh giới hữu hạn của con người. Và cái hữu hạn này làm cho những chọn lựa của con người trong cuộc đời có ý nghĩa. Hay nói cách khác, hữu hạn làm cho Dasein tiến tới viên mãn. Qua việc đối mặt với hữu hạn tính cùng với sự xao xuyến lo âu mà Dasein buộc phải chọn lựa đảm đương vận mệnh của mình, hay là chốn chạy. Heidegger cho rằng chỉ khi con người sống với bản chân của mình, nghĩa là đảm đương vận mệnh của mình thì Dasein mới thực sự nhận ra được ý nghĩa của quà tặng hiện hữu. Và từ đó Dasein mở ra ý nghĩa cho thế giới này. “Không tự mình bước tới bờ hương chín thì cõi mật không tụ về trong trái.” M.H(Bùi Giáng dịch)
Paul Đỗ Anh Tuấn
Giáo sư hướng dẫn: Lm. Đậu Văn Hồng
THƯ MỤC THAM KHẢO
Heidegger, Martin, Being and Time, Joan Stambaugh dịch, (New York: State University of New York Press, 1996)
Hồng, Văn Đậu, Dẫn Vào Hữu Thể Luận (Tra Vấn Chức Năng Meta),(Tài liệu triết học lưu hành nội bộ, 2002)
Đỉnh, Thái Trần, Triết Học Hiện Sinh, (Hà Nội: Nxb Văn Học,2008)
Gorner, Paul, Heidegger’s Being and Time: An Introduction, (Cambridge: Cambridge University Press,2007)
Mulhall, Stephen, Heidegger’s Being and Time, (London and New York: Routledge,1996)
Demske, Jame M, Being, Man, & Death, (The University Press of Kentucky,1970)
Giáng, Bùi, Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, (Hà Nội: Nxb Văn Học, 2006)